GIÁO XỨ THỊ NGHÈ
Số 22B Xô Viết Nghệ Tĩnh, P.19, Q. Bình Thạnh
ĐT: (028) 35.144.770

SINH HOẠT MỤC VỤ GIÁO XỨ

+ Giờ lễ Chúa Nhật:

Sáng: 5g00’ – 6g30’ – 8g00’

Chiều: 15g00’ – 16g30’ – 18g00’ – 19g30’

+ Giờ lễ ngày trong tuần:

Sáng: 5g00’ -Chiều: 18g00’

(Riêng chiều thứ Ba, thánh lễ được cử hành tại Nhà Chờ Phục Sinh).

Thứ Sáu hàng tuần vào lúc 15g00’: Thánh lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa.

+ Chầu Thánh Thể:

* Thứ Sáu tuần thứ ba trong tháng, sau lễ chiều (giờ Chầu chung của cộng đoàn giáo xứ).

* Sáng Chúa Nhật tuần IV trong tháng, sau thánh lễ thiếu nhi (giờ Chầu thiếu nhi).

* Chầu cá nhân từ 5g30’ đến 21g00’ tại Nhà Chầu Thánh Thể.

+ Rửa tội trẻ em: Chúa Nhật đầu tháng lúc 9g15’.

+ Giải tội:

* Sáng thứ Ba, thứ Năm, thứ Bảy   : sau thánh lễ.

* Chiều thứ Bảy hằng tuần             : từ 14g30’.

* Thiếu nhi: sau thánh lễ:

  • Chiều các ngày thứ năm trong tuần.
  • Thiếu nhi các ngày Chúa Nhật: tuần 2 và tuần 3 trong tháng.

MỘT SỐ NGÀY LỄ TRONG THÁNG CẦN GHI NHỚ

  1. Thánh Alphongsô Maria Liguôri, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh lễ nhớ (01/08).

Sinh tại Marianella, gần Naples năm 1696, qua đời tại Nocera (Campanie) ngày 1.8.1787.

Thánh ALPHONGSÔ qua đời ngày 1.8.1787 thọ 91 tuổi. Ngài chào đời vào ngày 27.9.1696 trong gia đình de’Liguori ở Neapel, nước Ý.

Mới 16 tuổi, ngài đổ bằng tiến sĩ luật của cả đạo lẫn đời, trở thành một luật sư nổi tiếng. Vì ngài thấy rằng, với nghề này, người ta khó tránh được áp lực của đồng tiền, buộc phải bảo vệ sự bất công, ngài quyết định trở thành Linh Mục. Ngày 21.12.1726 ngài thụ phong Linh Mục, lúc 30 tuổi.

Qua những kinh nghiệm trong đời sống mục vụ, ngài lập “Dòng Chúa Cứu Thế” vào năm 1732. Dòng này dấn thân phục vụ cho tầng lớp nhân dân thấp hèn, bị bỏ rơi về mặt tôn giáo, đạo đức. Ngài gặp nhiều chống đối, cả về mặt tôn giáo, khi thành lập dòng, dù vậy, vào năm 1749, luật dòng cũng đã được Đức Thánh Cha Bênêđíctô XIV phê chuẩn.

Thánh Alphongsô luôn là một tu sĩ đạo đức và là một nhà khổ hạnh nghiệm nhặt, cả lúc ngài trở thành Giám Mục của địa phận Agata de’ Goti vào năm 1762, lúc ngài đã 66 tuổi. Ngài dành tất cả phần lớn thời giờ cho toà giải tội hay trên toà giảng. Sau 15 năm cống hiến cho địa phận, ngài từ chức và lui về Nocera dei Pagani. Mười hai năm cuối đời, ngài chịu nhiều đau khổ về mặt thể xác cũng như tinh thần, nhưng sau đó, ngài cũng tìm được bình an và yên giấc trong tay Chúa.

Ngài viết trên 100 tác phẩm tôn giáo. Quyển “Thần học luân lý” xuất bản năm 1748 và những hướng dẫn cho các cha giải tội tạo được nhiều ảnh hưởng lớn trong Hội Thánh. Ngài được tuyên thánh năm 1839 và được nâng lên hàng tiến sĩ Hội Thánh vào năm 1871.

  1. Chúa Hiển Dung, lễ kính (06/08).

Việc Chúa Giêsu biến hình trên núi cao được cả ba Phúc Âm Nhất lãm tường trình lại (Mt 17,1-9; Mc 9,2-10; Lc 9,28-36).

Người Hy Lạp đã mừng kính thánh lễ này dưới tên “Chúa biến hình” (Métamorphose du Christ) hay “lễ Núi Thabor” từ thế kỷ thứ 5. Vào thời Trung Cổ, thánh lễ này mới được phổ biến đây đó bên giáo hội Tây Phương. Mãi đến năm 1457 Đức Giáo Hoàng Calixtus III mới cho phổ biến thánh lễ này trên toàn Hội Thánh để kỷ niệm cuộc chiến thắng người Thổ Nhĩ Kỳ theo Hồi Giáo ở Belgrade vào năm 1456.

  1. Thánh Đa Minh, Linh Mục, lễ nhớ (08/08) .

Sinh tại Calaruega khoảng năm 1172, qua đời tại Bologna, nước Ý ngày 6.8.1221.

Thánh Đa Minh (Domini Canus -Dominicus) sinh tại Calaruega miền Castilien, nước Tây Ban Nha khoảng năm 1172-1173. Sau khi học triết học và thần học, ngài trở thành Kinh Sĩ ở Osma. Thời trai trẻ, ngài đã yêu sự khó nghèo cũng như người nghèo, thích cầu nguyện và ham học. Hai lần phải dọc ngang Âu Châu đã giúp ngài mở rộng tầm mắt và quyết định cuộc đời tương lai của mình. Trước nhất, ngài nhìn thấy và bắt đầu hiểu sự nguy hiểm của nhiều lạc thuyết đang đe dọa Hội Thánh.

Cùng với người bạn tên là Didacus thành Acebedo, ngài bắt đầu đi rao giảng, giúp cải hối những người theo bè rối Albigeois. Khi Didacus qua đời, ngài lãnh đạo cơ quan truyền giáo do Didacus lập ở Toulouse miền nam nước Pháp. Ngài cùng với anh em giảng thuyết thực tập sám hối, đi chân không, tổ chức nhiều buổi đối thoại kéo dài ngày. Thế nhưng thất bại, nhóm Albigois cùng nhón Catare đã không chấp nhận lý luận, họ đòi canh tân Hội Thánh và ly khai, thế là Đức Innocence III đã quyết định dùng binh lực để truy lùng lạc giáo. Cuộc chiến tiêu diệt bè Albigeois kéo dài từ 1208 đến 1213 gây biết bao tang tóc cho cả miền nam nước Pháp.

Năm 1215 Đa Minh sang Rôma để xin công nhận dòng Giảng Thuyết do ngài thành lập, mục đích là với lời rao giảng và mẫu gương đời sống khó nghèo, tập thể theo tu luật thánh Âu-tinh, có thể cải hối những người theo bè rối. Đức Thánh Cha Honorius III đã châu phê luật dòng ngày 22.10.1216. Từ đó, Dòng trở thành một sức lực canh tân mạnh mẻ trong Hội Thánh. Thánh Đa Minh qua đời tại Bologna ngày 6.8.1221. Ngày 3.7.1231 ngài được Đức Thánh Cha Grêgôriô IX, bạn thân của thánh nhân, tuyên ngài lên hàng hiển thánh.

  1. Thánh Laurensô, Phó Tế, tử đạo, lễ kính (10/08) .

Chúng ta đã thấy, ngày 7.8 Đức Giáo Hoàng Sixtus II bị chặt đầu trong hang toại đạo đang khi dâng thánh lễ, và cùng với ngài người ta cũng chặt đầu thêm 4 thầy Phó Tế đang vây quanh ngài, trừ Laurensô. Thầy Phó Tế này là quản lý tài sản của giáo hội Rôma. Người ta cho thời hạn 4 ngày để đem nộp tất cả cho Nhà Nước.

Theo truyền thuyết, sau thời hạn 4 ngày, Laurensô đến toà án cùng với một đám đông dân nghèo của thành phố La Mã, ngài nói với quan toà: “Này, đây là tài sản của Hội Thánh; hãy nói với hoàng đế, ráng gìn giữ cho cẩn thận, vì chúng tôi không còn có mặt ở đây để gìn giữ nữa”. Người ta bắt trói ngài, quăng lên giường sắt, thiêu lửa riu riu, nhưng nhờ ơn Chúa ngài không cảm thấy gì cả. Sau một thời gian dài, ngài nói với lý hình: “Lưng của tôi chín rồi; phải lật qua bụng thôi! Nếu như hoàng đế muốn có một miếng thịt chín để ăn cho ngon!” Và ngài đã chết trong khi cầu nguyện.

Hạnh các thánh Tử Đạo tường trình cuộc tử đạo của Laurensô thật phấn khởi, đượm chút mỉa mai với nét vui tươi của thánh nhân. Chính nét vui tươi can đảm này làm cho giáo hội Rôma tin tưởng vào Đức Kitô và phấn khởi lạc quan, không còn sợ những thói dã man của hoàng đế, đồng thời cũng thấy trước ngày tàn của ngoại giáo; nên tất cả giáo dân ở Rôma rất kính trọng thánh Laurensô. Đại thánh đường được xây trên mộ ngài ở đường Via Tiburtina là một trong 7 đại giáo đường ở Rôma.

Từ thế kỷ thứ IV thánh lễ này được mừng long trọng ngang hàng với lễ thánh Phêrô và Phaolô. Cùng với hai thánh Tông Đồ này, thánh Laurensô được xem như thánh quan thầy của thành phố Rôma. Ngay thời Trung cổ, có tất cả 34 thánh đường mang tên ngài trong thành phố này; và cả Âu Châu gần như nơi nào cũng có xương thánh hay di tích giường sắt tử hình của thánh Laurensô. Ngày nay thánh Laurensô được xem như thánh quan thầy của người nghèo, vì ngài đã chăm sóc và tôn trọng họ như “kho tàng của Hội Thánh”. Ngài cũng là thánh quan thầy của các quãn thủ thư viện, của phòng cháy chữa cháy, của những nghề đụng tới lửa, chỉ vì ngài bị thiêu trên giường sắt nung đỏ.

  1. Thánh Máximilianô Kolbê (1894-1941), Linh Mục, tử đạo, lễ nhớ (14/08).

MAXIMILIAN KOLBE sinh ngày 7.1.1894 tại Zdunska-Wola nước Ba Lan. Ngài gia nhập dòng Phanxicô nhánh tu viện (Franciscain Conventuel) và năm 1918 thụ phong Linh Mục, trọn đời gắn bó với Đức Maria Vô Nhiễm. Đã có những năm ngài làm bề trên tu viện lớn nhất thế giới, đó là tu viện Niepokalanow, gần Varsovie.

Năm 1922 ngài thành lập giới báo chí Công Giáo tại Ba Lan và năm 1930 tại Nhật Bản. Năm 1936 ngài trở về Ba Lan. Từ năm 1927 ngài đã xây dựng một nhà xuất bản; vào năm 1939 có tới 600 tu sĩ thuộc dòng ngài cộng tác trong nhà xuất bản này, cho ra mỗi ngày tờ “Báo Nhỏ” (độ 170.000 bản) và hằng tháng tờ “Hiệp sĩ của Đấng Vô Nhiễm” (độ 750.000 bản). Tại nhà xuất bản này cũng có một đài phát thanh.

Đương nhiên ảnh hưởng của ngài quá lớn, nên vào năm 1940 Phát Xít Đức đã bắt ngài vào trại giam Oranienburg và năm 1941 chuyển vào trại giam nổi tiếng Auschwitz. Tại đây có quy luật, nếu một người tù trốn trại, 10 người tù khác sẽ chết thay. Lúc ban đầu người ta còn xử bắn, nhưng sau này để bớt tốn đạn, người ta bỏ đói tù nhân. Một chiều tháng 8.1941 có người tù trốn trại và 10 người khác được chỉ định để chết thay, trong số đó có anh lính Gajowniczek. Anh khóc lóc vì có gia đình và đàn con. Trước tình cảnh ấy cha Maximilian Kolbe xin chết thế cho anh. Được chấp nhận, cha đã chết thế cho người lính trẻ. Đoàn tử tù phải bước vào phòng hơi ngạt số 14. Hôm sau, người ta mở cửa phòng để lôi xác ra ngoài, nhưng cha còn thoi thóp, người ta chích cho cha một mũi thuốc ân huệ. Cha đã tắt thở đúng chiều áp lễ Đức Mẹ lên trời.

Ngày 17.10.1971 Đức Thánh Cha Phaolô VI đã nâng ngài lên hàng chân phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ghi tên ngài vào sổ bộ hiển thánh.

  1. Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, lễ trọng (15/08).

Từ thuở ban đầu, các giáo đoàn tiên khởi đều tôn kính Đức Trinh Nữ Maria. Những trích đoạn trong Tân Ước minh chứng điều này; tiếp đến là những bản văn của các giáo phụ; rồi đến Công Đồng chung Êphêsô năm 431 tuyên bố “Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa”. Đã có những thánh lễ nói về giây phút chấm dứt cuộc đời trần thế của Đức Maria. Ai cũng tin cuộc chấm dứt này phải tốt đẹp. Nhưng như thế nào thì không ai dám khẳng định.

Những thánh lễ nói về việc chấm dứt cuộc đời trần thế này, như Dormitio (an giấc); Transitus (chuyển hóa); Natalis (sinh ra trên trời); Assumptio (được nâng lên)…Hình như người ta tránh né cái chết thể lý của Đức Trinh Nữ. Vấn đề này vẫn còn bỏ ngỏ cho đến ngày nay.

Thánh lễ Dormitio (an giấc) của Đức Mẹ đã được long trọng cử hành khắp đó đây trên giáo Hội Đông Phương, nhất là sau Công Đồng chung Êphêsô 431. Hoàng đế Maurice (582-602) xác định thánh lễ vào ngày 15 tháng 8 hằng năm, và tuyên bố đó là ngày lễ của Nhà Nước được nghỉ lao động. Mãi đến thế kỷ thứ 7 thánh lễ này mới du nhập vào giáo hội Tây Phương. Công Đồng Mayence năm 813 xác định thánh lễ này trong đế quốc của Charlemagne.

Ngày 1.11.1950 Đức Piô XII long trọng tuyên bố tín điều Đức Maria HỒN XÁC VỀ TRỜI, và như thế, xác nhận niềm tin Kitô giáo vốn được gìn giữ trong Hội Thánh qua bao thế kỷ.

  1. Thánh Bêrnarđô, viện phụ, tiến sĩ Hội Thánh, lễ nhớ (20/08).

Sinh tại Fontaine-lez-Dijon (Côte-d’Or), qua đời tại Clairvaux (Aube) ngày 20.8.1153.

Thánh Bernarđô thuộc dòng quý tộc Burgunde, sinh năm 1090 tại Fontaine-lez-Dijon thuộc tỉnh Bourgogne nước Pháp. Sau khi mẹ qua đời được 4 năm, ngài cùng 5 anh em và 25 bạn hữu bước vào đan viện Xitô năm 1112 ở Côte d’Or. Ba năm sau, ngài đứng đầu một nhóm 12 người được sai đi thành lập tu viện Clairvaux; lúc ban đầu ngài gặp rất nhiều khó khăn, nhưng sau đó dòng phát triển rất nhanh. Cho đến lúc ngài qua đời, dòng đã có tất cả 68 chi nhánh (vì thế người ta thường gọi ngài là Bernard (Bernhard) thành Clairvaux). Cả Âu châu, con số dòng Xitô lên đến 400 và xem ngài như vị tổ phụ thứ hai của dòng.

Không chỉ hăng say về mặt dòng tu, ngài còn chú tâm thật nhiều đến vấn đề của Hội Thánh. Ngài tư vấn của nhiều Giáo Hoàng, quận công và sứ thần Toà Thánh. Trong thời gian đại Ly Khai ở Âu Châu, ngài đã thu phục được các nước Pháp, Anh, Đức, Ý về cho Đức Giáo Hoàng Innocentê III.

Đức Thánh Cha Eugen III, xuất thân từ đan viện Clairvaux, ra lệnh cho ngài đi cổ động Thánh Chiến Thập Tự Chinh lần II. Cuộc thánh chiến thất bại, vì các vua chúa, tướng lãnh Công Giáo tranh chấp quyền lợi và chiến thuật, chiến lược trên suốt đường đi và tan rã. Tất cả đều quay lại trách cứ ngài. Khó khăn, thất bại, đau đớn phần xác giúp ngài nhiều kinh nghiệm cho đời sống nội tâm.

Ngài qua đời ngày 20.8.1153 tại Clairvaux, được nâng lên hàng hiển thánh năm 1174. Đức Thánh Cha Piô VIII tôn phong ngài lên hàng tiến sĩ Hội Thánh.

  1. Thánh Piô X, Giáo Hoàng, lễ nhớ (21/08).

Sinh tại Riese (Venetia) năm 1835. Ngài được chọn làm Giáo Hoàng cai quản Hội Thánh từ 1903 đến 1914. Qua đời tại Roma ngày 20.8.1914.

Giuseppe SARTO là con của một gia đình nghèo, được sinh ra vào ngày 2.6.1835 trong làng Riese gần Treviso. Học hết các lớp tiểu học tại làng, rồi phải cuốc bộ 14 cây số hằng ngày để theo Trung học. Bà mẹ mua cho đôi giày, nhưng để tiết kiệm, cậu Giuseppe mang giầy đi học, ra khỏi nhà được một quảng, cậu cởi ra, vác trên vai, đi chân không đến trường. Lớn lên, cậu muốn làm Linh Mục, cha muốn con ở nhà giúp gia đình, mẹ khuyến khích con dâng mình cho Chúa.

Năm lên 15 tuổi Giuseppe bước vào chủng viện ở Padua; ít lâu sau người cha qua đời, ngài quá lo lắng muốn trở về giúp gia đình, nhưng người mẹ cương quyết tin vào Thiên Chúa, và dạy con cứ tiếp tục con đường tu trì. Năm 1858 ngài thụ phong Linh Mục; năm 1875 làm cha sở nhà thờ chánh toà ở Treviso và năm 1884 lên chức Giám Mục cai quản địa phận Mantua. Chín năm sau, 1903, Đức Thánh Cha Lêô XIII nâng ngài lên làm Thượng Phụ Giáo Chủ ở Venise. Cũng chính năm đó, với chức Hồng Y ngài mua vé xe lửa khứ hồi đi Rôma, họp Conclave để bầu Giáo Hoàng mới. Thế nhưng Hồng Y Đoàn đã bầu ngài lên ngôi giáo chủ. Ngài phản đối, khóc lóc và van nài, nhưng cuối cùng phải chấp nhận.

Mười một năm trên ngai Giáo Hoàng, ngài vẫn như xưa: một vị mục tử. Ngài thấy trách nhiệm của mình trong việc “CANH TÂN TẤT CẢ TRONG ĐỨC KITÔ”. Ngài thúc đẩy canh tân tất cả với một nhiệt tâm đặc biệt: Phụng vụ, giáo luật, khoa Thánh Kinh. Ngài chiến đấu không khoan nhượng với các lạc thuyết trong thời đại ngài, núp dưới danh Modernismus.

Ngài là con người cầu nguyện và giúp đỡ mọi khó khăn. Ngài cho phép và khuyên bảo việc rước lễ hằng ngày và thường xuyên của tín hữu; đặc biệt ngài cho phép các em nhỏ, khi đủ trí khôn, được phép rước lễ. Cuối đời ngài lo lắng cho tình hình xáo trộn trong thế giới. Ngài qua đời ngày 20.8.1914 sau khi thế chiến thứ nhất bùng nổ trên thế giới. Năm 1945 ngài được nâng lên hàng hiển thánh.

  1. Đức Maria Nữ Vương, lễ nhớ (22/08).

Thánh lễ này được Đức Thánh Cha Piô XII đưa vào phụng vụ để kết thúc năm Thánh Mẫu 1954, kỷ niệm 100 năm công bố tín điều ĐỨC MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI. Lúc ban đầu, thánh lễ được cử hành vào ngày 31.5 để kết thúc tháng Hoa. Theo phụng vụ mới 1970, thánh lễ được dời vào ngày 22.8, bát nhật sau ngày đại lễ ĐỨC MARIA HỒN XÁC VỀ TRỜI; hiểu ngậm rằng Mẹ được đưa về trời để được tôn vinh làm Nữ Vương Thiên quốc.

Lễ trọng Đức Mẹ lên trời cả hồn lẫn xác được tiếp nối bằng lễ ĐỨC MARIA TRINH NỮ VƯƠNG, lễ này được cử hành một tuần sau lễ trước và trong lễ này, người ta ngắm nhìn Đấng đang ngự bên cạnh Đức Vua muôn đời, Bà sáng láng như NỮ VƯƠNG và nắm giữ vai trò cầu bầu như người Mẹ (Phaolô VI, Marialis Cultus, số 6).

Sứ vụ từ mẫu của Đức Trinh Nữ thúc đẩy dân Thiên Chúa với tình con thảo tin tưởng hướng về Đấng có sự âu yếm của một người mẹ và là người Bảo trợ lân tuất, luôn sẵn sàng nhậm lời họ. Dân Thiên Chúa có thói quen kêu cầu Mẹ là Đấng an ủi kẻ âu lo, Đức Bà cứu kẻ liệt kẻ khốn, Đức Bà bầu chữa kẻ có tội, để được Mẹ cứu giúp trong lúc gian nan, an ủi trong cơn bệnh hoạn, giải thoát trong khi chìm đắm trong lỗi lầm. Vì không vướng mắc mọi vết nhơ, Mẹ giúp con cái chiến thắng tội lỗi với một quyết tâm dứt khoát. Phải xác quyết rằng việc giải thoát khỏi tội và cái xấu (x. Mt 6,13) là bước đầu cần thiết cho việc canh tân đời sống Kitô hữu (Phaolô VI, Marialis Cultus, số 6).

  1. Thánh Barthôlômêô Tông Đồ, lễ kính (24/08).

Trong danh sách các Tông Đồ, Thánh Barthôlômêô thường được 3 Phúc Âm nhất lảm nhắc đến (Mt 10,3; Mc 3,18; Lc 6,14). Tên trọn vẹn của ngài có thể là Nathanael Bar-Tolmai; ngài được Phúc Âm Gioan gọi là Nathanael (Ga 1,45-51). Người ta đoán rằng Nathanael là một thầy thông luật hay đệ tử của một trường phái luật sĩ.

Theo truyền thuyết, Nathanael rao giảng ở Ấn Độ, Mésopotamie và nhất là ở Arménie, cuối cùng chịu tử đạo tại đây. Di hài của ngài sau đó được chuyển về đảo Lipara và về Benevent. Hoàng đế Otto III cho chuyển về Roma và đặt ở một cồn nhỏ trên sông Tibre.

  1. Thánh nữ Mônica, thân mẫu của thánh Augustinô, lễ nhớ (27/08).

Sinh tại Numidie khoảng năm 332, qua đời tại Ostia vào mùa thu năm 387.

Chúng ta chỉ biết thánh Mônica qua quyển Tự Thuật của người con là thánh Augustinô. Bà sinh khoảng năm 332 ở Tagaste miền bắc Châu Phi, là con trong gia đình có đạo. Lúc 18 tuổi, bà kết hôn với một người ngoại tên là Patricius, sinh được 3 đứa con; người con cả là Augustinô. Bà theo dõi sự phát triển của con với niềm vui lẫn âu lo. Bà khóc lóc vì những sai lạc về luân lý và tinh thần của con, luôn luôn lấy tình thương khuyên nhủ. Vị Giám Mục ở Milan là thánh Ambrôsiô đã an ủi bà: “Không lẽ một người con đã làm cho bà rơi biết bao nhiêu nước mắt, lại phải hư mãi sao?”.

Bà đã lo lắng cho chồng được trở lại đạo một năm trước khi ông qua đời, khoảng năm 371. Sau khi chồng mất, bà theo người con cả Augustinô từ Rôma sang Milanô nơi ông dạy học. Cũng nơi đây, bà được chứng kiến Augustinô chịu ảnh hưởng của Giám Mục Ambrôsiô, bỏ lạc giáo và chịu rửa tội vào đêm Vọng Phục Sinh năm 387. Sau đó cả hai quyết định trở về Tagaste.

Mùa thu năm 387 hai mẹ con bỏ Rôma, lên đường về Châu Phi. Trong cuộc hành trình, Mônica qua đời trên đường Ostia gần Rôma, thọ 56 tuổi và lúc Augustinô được 33. Augustinô đã chôn cất mẹ tại Ostia. Ngày nay xác bà được dời về thánh đường kính thánh Augustinô tại Rôma.

  1. Thánh Augustinô, Giám Mục, tiến sĩ Hội Thánh,  lễ nhớ (28/08).

Sinh tại Tagaste (Souk-Ahras, Algérie) năm 354; qua đời tại Hippone ngày 28.8.430.

Qua quyển Tự Thuật, chúng ta biết rõ Augustinô từ những lầm lạc đến cuộc trở lại.

Ngài là con của Patricius người ngoại giáo và bà mẹ Mônica người Công Giáo. Sinh tại Tagaste khoảng năm 354, học ở Madaura và Carthago, sau đó trở thành giáo sư về Môn Hùng biện ở Tagaste và Carthago.

Năm 383 ngài sang sống ở Roma và năm 384 bắt đầu dạy học ở Milan. Nơi đây, ngài đọc Platon và làm quen với vị Giám Mục địa phương là Ambrôsiô. Vào đêm vọng Phục sinh năm 387, ngài lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Trước đó, ngài đã lìa bỏ một người đàn bà cùng chung sống với nhau suốt 14 năm trời. Ngài cũng bỏ chức giáo sư và cả gia sản, trở về Tagaste, cùng sống với các bạn bè như một dòng tu.

Không bao lâu, Giám Mục ở Hippo khám phá ra ngài và phong ngài làm Linh Mục vào năm 391. Sau khi vị Giám Mục qua đời, ngài lên kế vị. Ngài chung sống với hàng giáo sĩ ở địa phận theo quy luật do ngài lập ra. Quy luật có những nét căn bản cho cuộc sống tập thể một cộng đoàn dòng tu. Augustinô qua đời vào năm 430, khi quân Vandale bao vây địa phận của ngài.

Augustinô là vị giáo phụ nổi tiếng nhất của Giáo Hội Tây Phương. Ngoài quyển Tự Thuật, ngài còn 22 quyển sách viết về “Thành Trì Thiên Chúa”, tiểu phẩm triết lý và thần học, giải thích Thánh Kinh, Bài giảng, thư từ. Ảnh hưởng của ngài hiện tại vẫn còn sâu đậm trong triết học, thần học và đạo đức của Âu Châu.

  1. Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết, lễ nhớ (29/08).

Herodes Antipas, quận vương của Galilê, ra lệnh chém đầu vị Tẩy Giả. Câu chuyện được trình thuật trong cả ba Phúc Âm nhất lãm: Mc 6,17-29; Mt 14,3-12; Lc 3,19-20. Bà vợ loạn luân Herodias đã không tha thứ những lời trách móc, khuyến cáo của vị ngôn sứ.

Đối với dân Do Thái, việc chém đầu (dựa theo luật La Mã, không có trong Luật Do Thái) là một hình phạt đáng nguyền rủa, sau hình phạt đóng đinh.

Theo truyền thuyết, các môn đệ của Gioan có lẽ đã chứng kiến cuộc hành hình này, đã mang xác thầy về Samarie-Sebaste và chôn cất tại đó. Họ đã báo tin này cho Đức Giêsu. Thánh lễ hôm nay đã có trong Giáo Hội Đông Phương từ thế kỷ thứ V.

LCH SINH HOT MC VTHÁNG 08/2019

1. ThBa (13/8) kniệm ngày Đức Mhin ra ti Fatima. Thánh lễ sẽ đƣợc cử hành lúc 12g00’ cùng ngày.
2. Thứ Năm (15/8) lễ Đức Maria hn xác lên tri thánh lễ lúc 18g00 mng bn mạng Giáo khu Đức MLa vang (GK 4)
và Hi Con Đức M.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *